Đã tuyển chọn và sử dụng 9 giống nếp than làm bố mẹ, thực hiện lai theo phương pháp lai đơn, xác định 17 tổ hợp lai và thu được tổng cộng 413 hạt lai F1.
Thực hiện các nghiên cứu chọn tạo dòng phân ly từ thế hệ F2 đến F7 đã chọn được 2 dòng nếp than triển vọng (dòng TNN70-30-3-2-4-4-1 và dòng TNN47-3-6-1-3- 4-1). Thời gian sinh trưởng ngắn hơn giống gốc ban đầu (giống đối chứng 108 ngày). Có kiểu hình cây cứng, chống đổ ngã tốt, số bông/bụi và số hạt chắc/bông ở mức khá cao. Hàm lượng amylose thấp, phù hợp với yêu cầu về độ dẻo và chất lượng nếp cụ thể như sau:
+ Dòng TNN70-30-3-2-4-4-1: TGST 105 ngày, hàm lượng amylose 5,41%, NSTT 6,54 tấn/ha (giống đối chứng nếp than Đăk Hà 5,78 tấn/ha, gia tăng năng suất 13,1%).
+ Dòng TNN47-3-6-1-3-4-1: TGST 106 ngày, amylose 5,56%, thơm nhẹ (cấp 1), NSTT 6,43 tấn/ha (giống đối chứng nếp than Đăk Hà 5,78 tấn/ha, gia tăng năng suất 11,2%.
Thực hiện lọc thuần thành công giống nếp than Đăk Hà đảm bảo độ thuần và đồng thời cải thiện năng suất (5,69 tấn/ha so với 4,38 tấn/ha nếp than Đăk Hà gốc, thể hiện xu hướng tăng năng suất 29,9%), vẫn duy trì độ dẻo (amylose 3,76%).
Đã xây dựng quy trình canh tác phù hợp cho dòng/giống nếp than mới (lượng giống gieo sạ 100 kg/ha, lượng phân bón 110 N – 60 P₂O₅ – 60 K₂O) đã phát huy tối đa tiềm năng năng suất trung bình (từ 5,71 đến 6,95 tấn/ha) của giống nếp than mới.